This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Người Tây Bắc hiếu khách


Nếu lấy Hà Nội làm trung tâm thì cứ ngược quốc lộ 6 lên phía Tây Bắc là chúng ta sẽ đến được vùng Tây Bắc của tổ quốc, quê hương của những điệu xoè điệu khắp, nơi có rừng hoa ban nở trắng trời. Qua Hoà Bình, qua cái nôi của văn hoá Mường với Bi-Thang-Vàng-Động, leo gần 100 km đèo nữa là tới cao nguyên Châu Mộc, cao 800-1.000 m. Lên tới đây là bước chân vào vùng Tây Bắc, vùng đất mang đậm dấu ấn của văn hoá Thái. 

 

Thực ra đây không phải là vùng đất mà người Thái đặt chân xuống đầu tiên trong cuộc thiên di của mình. Từ thế kỷ XI, theo dòng sông Hồng (Nậm Tao), người Thái đổ bộ xuống Nghĩa Lộ (Mường Lò) rồi từ đó con cháu của Tạo Xuông, Tạo Ngần tiến dần sang các vùng Sơn La, Điện Biên, giáp Lào. Đất ấy, tên Thái là Mường Theng tức là mường trời mà ngày nay chúng ta vẫn đọc trại ra thành Mường Thanh. Lên tới Mộc Châu là nghe tiếng thông reo vi vút với rừng tre rừng vầu ngút ngàn trong sắc trắng hoa ban. Phải chăng chính vì thế mà châu Mộc có tên Thái là Trảng Tre, Trảng Ban (Phiêng Xang, Phiêng Ban)? ấy là nói những năm trước đây, chứ bây giờ hoa ban còn ít lắm. 

Từ cao nguyên Mộc Châu đổ xuống thung lũng Yên Châu rồi vượt qua dãy Chiềng Đông đến Nà Sản về Sơn La. Không thấy hoa ban. Từ Sơn La vượt hơn 30 cây số đèo Pha Đin, nơi ngăn cách giữa trời và đất, nơi bông hoa ban thấm đẫm trong từng câu dân ca Thái để đến Tuần Giáo. Cũng khó gặp hoa ban. Núi rừng hầm hập nóng trong gió Lào của đất Yên Châu, lạnh lẽo và cô quạnh trong mù sương trên đỉnh Pha Đin. Đến lúc này, người ta mới thấy quý bóng cây ban. Hoa Ban mất đi không phải lỗi của người dân nơi đây. Người Thái bảo vệ rừng ban không chỉ vì nó là biểu tượng văn hoá của quê hương họ, mà còn vì chỉ có cây ban mới mọc được nơi đất cằn, độ dốc lớn. Nhờ có cây ban giữ lại mùn mà đất cằn tái sinh, mà nước mưa ngấm vào lòng đất ngăn nhưng cơn lũ ống bất chợt tràn về. Cây ban không cho gỗ, cây ban đun cũng không cháy. Chỉ có bát canh hoa ban cho con trẻ được no lòng khi giáp hạt. 

Luật và tín ngưỡng tôn giáo của người Thái trước đây quy định, bản nào cũng có hai khu rừng hoang dại mang tên rừng kiêng (đông căm) hay rừng ma (đông phi) và một khu rừng cấm chặt phá để bản tổ chức "Ngày hội hái măng" (Há nó pá hẳm). Vì không ai dám chặt phá nên đã giữ được rừng nguyên sinh. Chẳng riêng gì người Thái, cả người Mông trên núi cao, người Khơ Mú, Kháng, La Hả... trong rừng sâu đều tự nguyện tuân theo luật Thái. Bởi đó là quyền lợi lâu dài của tất cả các dân tộc trong vùng.

Cây ban không còn, rừng cũng không còn, gió Lào như những lưỡi lửa vô hình quất vào đá núi. Chiếc khăn piêu rực rỡ không còn che đỡ nổi cái nắng lúc hạ về. Cô gái Thái bây giờ phải mang thêm cái nón của người xuôi. Với những cô gái đã lập gia đình, đầu đã búi tóc (tẳng cẩu), đội cái nón vào trông rất ngộ. Nó mất hẳn đi sự cân đối nhưng vẫn đẹp; nó mong manh như mái nhà sàn chông chênh trên sườn núi, ai đó muốn chở che nhưng lại quá xa vời.

Người Tây Bắc nói chung và người Thái nói riêng sống chân thật, hoà thuận. Trong bản cũng như trong gia đình ít khi to tiếng với nhau. Đặc biệt, hiếm khi thấy bố mẹ đánh đập con cái. Sống đoàn kết và thương yêu nhau là nét chủ đạo trong cuộc sống của người Thái. Tục ngữ Thái có câu: "Một thân không thể ngồi trên nong tự nhấc, không thể ngồi trên gốc tự nhổ" (Phủ điều báu năng đổng hak nho, báu năng to hak cốn). Cho nên khi đói kém, bản Thái và các dân tộc anh em vùng Tây Bắc sẵn sàng chia sẻ lương thực cho nhau. Có lẽ phải tiếp cận từ góc nhìn như thế thì mới lý giải nổi sự tồn tại trong hàng chục năm của các quán hàng tự giác trên khắp các nẻo đường Tây Bắc. Hay phải chăng, đó là hệ quả của một xã hội chưa biết đến thương nghiệp với vật ngang giá là đồng tiền? Vậy thì ta nên vui hay buồn đây khi mà những quán hàng tự giác như thế ngày nay chỉ còn tìm thấy trong những câu chuyện cổ tích?

Người Thái ngày nay vẫn hiếu khách. Chẳng cần biết lạ hay quen, thân hay sơ, khách đến nhà là được ngủ ở vị trí trang trọng với chăn mới, đệm mới do chính bàn tay khéo léo của các cô gái Thái làm nên. Là con gái Thái thì không được phép ngừng tay làm vải và phải đạt đến độ tinh xảo: "Sấp đôi tay đã thành hoa văn, ngửa bàn tay đã thành hoa lá" (Khuổm mư pên lai, hai mư pên pok). Có lẽ cũng chính vì thế mà người Thái gọi bạn trăm năm là vợ con tay guồng sợi tơ. Gái Thái đẹp nhưng siêng năng, khéo tay nhưng hiền thục. Nhà có khách, các cô gái Thái bẽn lẽn quỳ cả buổi để tiếp rượu. Khách hoặc chủ có lỡ say thì đó cũng là cái sự quá vui mà thôi. Gần đây, một vài người có chê trách tật uống rượu say của người Tây Bắc. 

Thực ra đó không phải là tập quán. Uống rượu thì có, nhưng việc say xỉn thì ngay cả người Thái cũng lên án. Bởi vậy mới có câu: "Uống rượu đừng uống say, say nhiều thành vơ vất người đời cười chê" (Kin lảu nha mau lai, mau lai pên báng pa pươn tay hua nả). Nếu cứ trách như thế thì hoá ra ta đã hiểu nhầm lòng chân thành và hiếu khách của bà con mất rồi.

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số


Thiếu nữ của mỗi dân tộc mang một sắc thái, kiểu trang phục khác nhau làm cho vẻ đẹp của 54 dân tộc anh em thêm đa dạng, cuốn hút.

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số

Các cô gái người Sán Chay (còn gọi là Cao Lan, Sán Chỉ…). Dân tộc này chủ yếu tập trung ở vùng Đông Bắc Bộ, có nhiều ở các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang.

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số

Dân tộc Mông có gần 800.000 người, tập trung ở miền núi thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An. Người Mông có các nhóm khác nhau như Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Sí (Mông Đỏ), Mông Đú (Mông Đen).

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số

Người Pà Thẻn tập trung chủ yếu ở các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang. Người Pà Thẻn thường sống ở ven suối, thung Lũng hoặc triền núi thấp.

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số

Hai thiếu nữ Dao đỏ trong trang phục sặc sỡ của dân tộc mình. Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không đông nhưng các bản làng trải rộng tại các miền rừng núi phía Bắc như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang đến một số tỉnh trung du như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình...

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số

Trang phục của người Mông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt. Một bộ y phục cổ truyền của phụ nữ gồm váy, áo xẻ ngực, tạp dề trước và sau, xà cạp quấn chân...

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số

Người Lô Lô, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai.

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số

Người Lự còn có tên gọi khác là Lào Lự, Lữ, Nhuôn, Duôn và được xếp vào nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Dân tộc ít người này có khoảng 4.000 người, sinh sống chủ yếu ở một số xã vùng cao thuộc các huyện Tam Đường, Tân Uyên, Sìn Hồ (Lai Châu).

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số

Dân tộc Giáy có khoảng 38.000 người, cư trú ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu và Cao Bằng. Người Giáy còn có tên gọi khác là Nhắng, Dẳng, Pâu Thìn, Cùi Chu, Xạ.

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số

Thiếu nữ Khơ Mú. Dân tộc này sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ như Nghệ An, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, với khoảng 100.000 người.

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số

Người Hrê, sống chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định, thích đeo trang sức bằng đồng, bạc, hạt cườm.

Vẻ đẹp thuần khiết của thiếu nữ dân tộc thiểu số

Ngườii Chăm tập trung nhiều ở vùng Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ như An Giang, Ninh Thuận, Bình Thuận, với khoảng 160.000 người.

Tây Bắc - vẻ đẹp mê hồn

(trangphucbieudiendantoc.tk) Tây Bắc - vẻ mê hồn của miền sơn cước đã lọt vào ống kính Nhiếp ảnh gia người Hà Lan - Mick Palarczyk một cách sống động và rất chân thực .
Em bé ngồi trông mẻ cá phơi khô ở sông Chảy, Yên Bái
Cầu Mây trên sông Mường Hoa
Cầu Mây trên sông Mường Hoa
Những thửa ruộng bậc thang và con sông Mường Hoa ở bản Lao Chải, Sapa
Những thửa ruộng bậc thang và con sông Mường Hoa ở bản Lao Chải, Sapa
Một ngôi làng nhỏ trong thung lũng Mường Hoa, Sapa
Một ngôi làng nhỏ trong thung lũng Mường Hoa, Sapa
Hoa tai của người phụ nữ H’Mông Đen
Hoa tai của người phụ nữ H’Mông Đen
“Con trâu đi trước, cái cày theo sau”, những người đàn ông H’Mông Đen đang làm ruộng
“Con trâu đi trước, cái cày theo sau”, những người đàn ông H’Mông Đen đang làm ruộng
Những bé gái H’Mông Đen ở bản Tả Van, Sapa
Những bé gái H’Mông Đen ở bản Tả Van, Sapa
Phụ nữ dao Đỏ ở chợ phiên Sapa
Phụ nữ dao Đỏ ở chợ phiên Sapa
Núi rừng Lai Châu
Núi rừng Lai Châu
Cầu Hang Tôm bắc qua sông Đà ở Lai Châu
Cầu Hang Tôm bắc qua sông Đà ở Lai Châu
Hoa ban, nhà sàn ở thung lũng Nậm Mức – nơi cư trú của người H’Mông
Hoa ban, nhà sàn ở thung lũng Nậm Mức – nơi cư trú của người H’Mông
Bản làng bên sông của người Thái Trắng
Bản làng bên sông của người Thái Trắng
Chọc lỗ tra hạt ở thung lũng Nậm Mức, Lai Châu
Chọc lỗ tra hạt ở thung lũng Nậm Mức, Lai Châu
Gieo trồng
Gieo trồng
Cô gái người H’Mông Trắng tập bắn nỏ ở Tuần Giáo, Điện Biên
Cô gái người H’Mông Trắng tập bắn nỏ ở Tuần Giáo, Điện Biên
Nụ cười bé gái Thái Đen ở Sơn La
Nụ cười bé gái Thái Đen ở Sơn La
Đường làng ở thung lũng Sơn La
Đường làng ở thung lũng Sơn La
Trở tre
Chở tre
Bùa trừ tà gắn trên một cọn nước ở sông Nậm La
Bùa trừ tà gắn trên một cọn nước ở sông Nậm La
Trẻ chăn trâu băng qua sông Nậm La
Trẻ chăn trâu băng qua sông Nậm La
Người Thái Đen đắp đập dẫn nước cho những cọn nước mới ở sông Nậm La
Người Thái Đen đắp đập dẫn nước cho những cọn nước mới ở sông Nậm La
Một cọn nước ở sông Nậm La
Một cọn nước ở sông Nậm La
Tắm suối
Tắm suối
Một bản làng của người Thái Trắng ở Mai Châu
Một bản làng của người Thái Trắng ở Mai Châu
Một nếp nhà của người Thái Trắng tại bản Lác, Mai Châu, Hòa Bình
Một nếp nhà của người Thái Trắng tại bản Lác, Mai Châu, Hòa Bình
Bản Lác ở Mai Châu, Hòa Bình
Bản Lác ở Mai Châu, Hòa Bình
Phụ nữ H’Mông Hoa ở Bắc Hà
Phụ nữ H’Mông Hoa ở Bắc Hà
Chiếc váy thổ cẩm của người phụ nữ H’Mông phơi trên hàng rào
Chiếc váy thổ cẩm của người phụ nữ H’Mông phơi trên hàng rào
Hai cô gái tại chợ phiên Bắc Hà, Lào Cai
Hai cô gái tại chợ phiên Bắc Hà, Lào Cai
Phụ nữ người Dao Đen ở Tam Đường
Phụ nữ người Dao Đen ở Tam Đường
Tam Đường, Lai Châu
Tam Đường, Lai Châu
Ông cụ người Thái Trắng
Ông cụ người Thái Trắng
Một gia đình người Dao Đỏ
Một gia đình người Dao Đỏ
Vòng cổ của người Dao Đỏ
Vòng cổ của người Dao Đỏ
Một sạp hàng của người H’Mông Đen tại chợ phiên
Một sạp hàng của người H’Mông Đen tại chợ phiên
Người phụ nữ H’Mông Đen thổi sáo
Người phụ nữ H’Mông Đen thổi sáo

Theo
Mick Palarczyk

Tiếng Khèn gọi bạn tình của chàng trai H'mông

 Tiếng khèn hòa vào tiếng gió vi vu lúc như trên đồi lúc như trước mặt khiến cô gái đứng ngồi không yên, quả tim như muốn nhảy ra khỏi lòng ngực... Cô gái đã đến bên chàng trai như bị tiếng khèn của chàng trai H'mông "thôi miên".

Cây Khèn và tiếng nói của khèn đã gọi trăng, đón gió, gọi cô gái có đôi mắt đa tình xinh đẹp vượt qua mùa xuân xanh, vượt đá xanh, trời xanh về với mình. Gọi là “kéo vợ” hay vợ chạy theo thì cũng chẳng ai biết rõ, chỉ có cô gái, chàng trai, đôi bàn tay “dính” vào nhau “qua năm đồi, bảy suối” mới biết, rồi tình nguyện thả hồn vào tiếng khèn của chàng trai đã bao đêm gọi bạn.

Tiếng khèn gọi bạn tình

Nghe kể ngày xửa, ngày xưa, con gái người Mông khi đi lấy chồng phải giỏi tay thêu thùa, may vá, ít nhất cũng biết dệt vải, se lanh, may cho bố mẹ chồng, anh em nhà chồng những bộ quần áo trong ngày cưới của mình. Còn người đàn ông Mông khi muốn trở thành người đàn ông thực thụ của cộng đồng, thành người chồng chính thức của một cô sơn nữ xinh đẹp nào đấy, là cha của những đứa con sau một mùa xuân “kéo vợ” thì ít nhất cũng phải biết làm cho mình một cây khèn, dù biết rằng chàng trai kém cô gái tới vài ba hay cả chục tuổi.

Tôi đã đi hàng trăm phiên chợ Tết trên khắp vùng người Mông sinh sống, chợ nào chẳng có tiếng khèn nơi “đầu đường, cuối chợ” mà réo rắt mời gọi bạn tình. Chợ nào, lễ hội nào chẳng có hàng chục cô gái Mông vây quanh những chàng trai Mông vừa thổi khèn, vừa nhào lộn. Để đường về say mèn vì rượu, vì tình mà đôi má đỏ ửng, mắt long lanh, căng chiếc ô che cho chàng trai với cây khèn đã bóng khói bếp, bóng mồ hôi năm tháng.

Đi tìm hình hài của cây khèn

Đã rất nhiều lần tự hẹn với mình, rồi lại tự thất hứa với mình, đi tìm hình hài của cây khèn Mông, cây khèn đã mang âm sắc của một vùng văn hoá. Vậy mà mãi đến hôm nay, tôi mới trở về với tiếng khèn bằng hình hài chân chất của bầu gỗ, lóng trúc, lưỡi đồng, quấn vỏ đào rừng vàng óng trong đôi tay người nghệ nhân già, nơi xóm núi. Nơi ấy là xóm Tả Cù Ván thuộc xã Hố Quáng Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.

Đi theo tiếng khèn mùa xuân, mùa “kéo vợ”, từ phố huyện Đồng Văn tôi quyết tâm đến xóm Tả Cù Ván, xã Hố Quáng Phìn, muốn xuống tận nơi để được chứng kiến những nghệ nhân làm khèn, làm ra cái cây tâm tình mang lời của gió ở nơi đỉnh gió này. Đây cũng là một ân huệ ngàn đời của một dân tộc, chắt chiu những tinh hoa, để lại cho đời, cho nhân loại một di sản văn hóa vừa là vật thể, vừa là phi vật thể. Cây khèn Mông, một nhạc cụ không thể tách rời với đời sống văn hoá người Mông và cũng là sự kết tinh, là sự thẩm thấu, sự giao thoa của bao ngàn đời để lại.

Qua gần một buổi sáng cuốc bộ, lên đèo, xuống thung, ngồi thở bên vách đá, uống những giọt nước tinh túy được chắt ra từ đá. Xế trưa, tôi tìm đến gia đình ông Mua Sính Pó, một lão khèn vùng đá mà được nhân dân trong vùng gọi là “thần khèn”. Một con người mà mấy chục năm qua đã chuyên tâm truyền nghề và chế tác những cây khèn, những cây khèn mang cả một nền văn hoá dân tộc Mông ở nơi ông. Năm nay ông Mua Sính Pó đã trên sáu mươi tuổi, có gần bốn mươi năm làm nghề gọt cây, chắp gió, thành lời yêu, lời nhớ.

Theo ông Pó: “Muốn có một cây khèn mang đúng những âm thanh của người Mông bao đời nay thì phải chọn được thân gỗ kim giao vừa ý, chọn được những gióng trúc vừa tầm và không thể thiếu tính kiên nhẫn của người làm ra nó. Khèn của người Mông được làm hoàn toàn bằng những kinh nghiệm cha truyền, con nối, áng chừng bầu gió khoét rộng dài bao nhiêu là vừa đủ, áng chừng gióng trúc to nhỏ thế nào là đến tầm...”.

Nói rồi ông Mua Sính Pó nhìn tôi cười, tay ông với cây khèn mới làm xong treo trên vách đưa lên môi, ngón tay ông lần lần đưa vào những khuyết gió để cây khèn thả vào không gian đá trầm ấm một âm thanh đến mê hồn. Say... rất say... vai ông đặt xuống mặt đất, hai chân ông vuốt lên trời đối xứng với cây khèn mà lóng gió vẫn cứ mở đều theo điệu chân ông đạp, theo những ngón tay ông mở lóng hay đóng khuyết. Anh con trai ông ở đâu về thấy bố đang biểu diễn khèn, anh cũng với cây khèn trên gác ngô, lau đầu bầu gió vào áo, quệt ngang lưỡi đồng, lấy hơi và hai cây khèn “bố con” bắt đầu chờ nhịp hay chọn nhịp.

Giữ gìn bản sắc văn hóa của người Mông

Chiều xuống nhanh hơn trên vùng đá, tôi theo đường về huyện. Đứng trên “võng gió” nơi đỉnh dốc châm thuốc hút cho đỡ rét, rồi ngoái lại nhìn xóm Tả Cù Ván trong sương, trong mây. Nơi ấy có một trăm hai mươi tám nóc nhà, đằng sau xóm trên lưng chừng núi là một rừng trúc chạy dài óng ánh khi hoàng hôn tím sẫm. Lời ông Mua Sính Pó lại trầm trầm mà vang lên đâu đó: “Cái nghiệp làm khèn nó khác với cày nương đá, khác với chăn nuôi dê bò, cũng khác với cạy đá xếp nương ngô, nương bí. Nếu không yêu, không thích tiếng khèn từ nhỏ, không say cái lóng gió gọi người yêu, không say những chợ phiên có bầu trời lộn ngược khi nhảy khèn chống vai xuống đất, giơ chân lên trời thì không bao giờ làm được. Vẫn biết rằng, ít nhất trong đời, các đứa con trai người Mông cũng một lần biết vuốt bầu gió, xoa lóng trúc, kiếm vỏ đào rừng hong khói bếp để làm cho mình một cây khèn tìm vợ...”.

“Sinh nghệ, tử nghệ, có giàu nghèo gì thì tôi vẫn làm khèn”, ông Pó bảo với tôi như thế. Và để có được cây khèn ưng ý, ông đã phải bỏ ra mười ngày, mười đêm ngồi tỉ mẩn bên bếp lửa mà nghe tiếng thở dài của vợ lúc đêm khuya. Cũng nghe anh cán bộ văn hóa xã Hố Quáng Phìn bảo đã có nhiều công ty du lịch tìm đến khảo sát muốn đưa làng khèn, cây khèn, nghề làm khèn trở thành một điểm đến của tour du lịch văn hoá, một tiềm năng du lịch trên vùng cao nguyên đá. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là cách giữ gìn và phát triển làng khèn, một nơi đang lưu giữ hồn cho đá, cho bản sắc người Mông vùng cao nguyên đá./.